Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

12 người làm thay đổi nền bóng đá thế giới


Họ là 11 cầu thủ và 1 trọng tài, đủ để lập nên một đội bóng và một người thổi còi. Họ là những con người đã đi vào lịch sử bóng đá thế giới theo những cách khác nhau, và để lại một nét riêng, một cột mốc đặc biệt ...

1. Pierluigi Collina, siêu trọng tài đầu tiên và duy nhất tới nay

Collina là ngoại lệ duy nhất trên thế giới về một trọng tài. Trừ ông, tất cả những “vua áo đen” trên sân cỏ chỉ được những lời khen chiếu lệ cho một trận bắt tốt và bị chỉ trích nặng nề nếu bắt dở. Tóm lại, họ luôn là nơi để CĐV trút sự giận dữ có cớ và cả vô cớ.

Nhưng Collina là một tên tuổi lớn. Ông không chỉ là một trọng tài, mà còn hơn thế. Cuốn hồi ký của ông đã được dịch ra 11 thứ tiếng. Bên cạnh một website cá nhân nổi tiếng trên mạng, ông còn có mặt trong hàng loạt quảng cáo, video clip ca nhạc và các buổi trình diễn thời trang. Hãng IBM và Unilever từng thuê ông đến giảng cho các quan chức của họ về việc ra những quyết định. Ngày Collina chia tay với sân cỏ, một tờ báo ít khi quan tâm đến bóng đá như New York Times đã dành hơn một nghìn chữ để viết về ông. Collina thực sự có tài, điều đó không có gì phải bàn cãi. Hầu hết các HLV, các cầu thủ trên thế giới đều phải thừa nhận điều ấy.

Đôi mắt rất sáng, nụ cười dễ chịu và cái đầu không một chút tóc nào của ông được coi như một phần của thương hiệu Collina. Ông cũng như Beckham, có thể sống tốt và bỏ túi bạc triệu dù ít dính đến bóng đá nữa. Có nhiều cầu thủ kiếm tiền nhiều và nổi tiếng tương tự Beckham, nhưng trọng tài tới nay thì chỉ có một, đó là Collina.

Vài nét về Collina:
- Sinh năm: 1960
- Danh hiệu cá nhân: Trọng tài hay nhất thế giới, theo bầu chọn của LĐ quốc tế thống kê và lịch sử thế giới (1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003).


2. Paolo Maldini, nhà thơ của hàng phòng ngự

Facchetti đem sự lịch lãm, thông minh và rắn rỏi đến hàng phòng ngự. Gentille đã chỉ cho những người hâm mộ thấy, phòng thủ kiểu Italy là phải kèm chặt và “khủng bố” tinh thần của đối phương như thế nào. Baresi biến phòng thủ thành một dạng khoa học của tính chính xác trong thứ bóng đá phòng ngự khu vực. Còn Maldini là người đã giúp tất cả nhìn về cách phòng ngự Italy bằng một cái nhìn khác, tích cực hơn, đẹp hơn và nhiều chất thơ hơn.

Maradona từng nói về anh: “Hình như Maldini đi nhầm chỗ thì phải. Chỗ của anh ấy phải là trên sàn diễn thời trang”. Người hậu vệ lịch lãm và đẹp trai ấy đã biến phòng ngự thành một thứ nghệ thuật. Đó là nghệ thuật của sự phô diễn sức mạnh khi bám đuổi và cắt bóng ngay trong chân đối thủ, trong những tình huống nguy hiểm tưởng như không thể cứu vãn nổi với một sự chính xác ít thấy. Đó còn là nghệ thuật của khả năng lấy thăng bằng và thể hiện kỹ thuật, nghệ thuật của tài chỉ huy hàng thủ, nghệ thuật của việc đã luôn đứng vững trên sân cỏ trong suốt bao năm qua. Anh đã học những điều ấy từ người cha, Cesare (thậm chí anh còn giỏi hơn cha anh) và là một sản phẩm hoàn hảo của trường phái phòng ngự siêu việt Italy.

Người đàn ông này là người giữ tất cả những kỷ lục về số trận đấu cho ĐTQG, cho CLB, cho các trận đấu ở Cúp châu Âu, các trận derby, là một tầm gương lớn về sự bền bỉ, là lịch sử hiện đại của Milan, với biết bao thăng trầm trong hơn 20 năm qua, là một hình tượng mẫu mực về sự trung thuỷ. Anh chính là Milan và Milan, dù đã chuẩn bị rất kỹ cho những năm tháng không có anh, vẫn rùng mình khi đến một ngày, anh không còn ở đó nữa, trên thảm cỏ xanh.

Vài nét về Maldini:
- Sinh năm 1968
- Là một trong số hiếm những tên tuổi lớn trong lịch sử bóng đá không có một danh hiệu cá nhân ở cấp thế giới nào, không Quả bóng vàng, không Cầu thủ hay nhất của FIFA. Nhưng nếu có một giải thưởng tương tự như “Oscar cho thành tựu suốt đời”, anh xứng đáng có được danh hiệu ấy. Ennio Morricone, với biết bao nhạc phim suất sắc cho Hollywood, đã được trao một giải như thế. Maldini chính là Morricone của bóng đá.


3. Zinedine Zidane, biểu tượng thể thao, xã hội và chủng tộc

Cách đây chưa lâu anh vẫn giữ kỷ lục cầu thủ đắt giá nhất thế giới, là "vì tinh tú" sáng nhất trên bầu trời Real Madrid những năm qua. Kể cả khi anh đã giải nghệ sau World Cup 2006, người ta vẫn yêu anh, nhắc đến anh, nhớ đến cái đầu hói và những pha biểu diễn kỹ thuật đẹp đẽ của anh. Con người này là sự tổng hòa của rất nhiều yếu tố trong một nước Pháp: anh được một tờ báo của giới trung lưu Pháp bầu là người Pháp nổi tiếng nhất; năm 1998, với thắng lợi ở World Cup, anh được coi là biểu tượng của sự hoà hợp sắc tộc trên đất Pháp, vốn từ lâu đã có quá nhiều mâu thuẫn. Anh là người gốc Algeria, lớn lên ở Marseille, và là thủ lĩnh của một "Les Bleus" có công thức da trắng -da đen - Bắc Phi.

Nhà nghiên cứu xã hội Pháp, Pascal Boniface gọi hiện tượng thành công của Zidane là “sự khởi đầu của một thời đại ánh sáng mới”. Điều đó đúng. Chỉ có điều, Zidane đã kết thúc sự nghiệp trong một bi kịch cho chính anh, một cú húc đầu vào ngực Materazzi trong trận chung kết World Cup 2006. Cú "phốt" này không chỉ đóng lại những năm tháng đẹp đẽ của anh trong bê bối, mà còn góp phần khiến Pháp không thể với tới một chức VĐTG tiếp theo.

Vài nét về Zidane:
- Sinh năm: 1972
- Danh hiệu cá nhân: Quả bóng vàng châu Âu (1998), Cầu thủ hay nhất thế giới (1998, 2000, 2003), Cầu thủ hay nhất nước Pháp (1998, 2002)


4. Roberto Baggio, người giúp tifosi không ghét bỏ bóng đá Italy

Truyền thống bóng đá Italy luôn sản sinh ra những hậu vệ lớn - những "công nhân" thực sự trên thảm cỏ, mà nhiệm vụ duy nhất là không cho một ai, kể cả chính họ, ghi bàn. Trong hàng chục năm, những gì mà người ta nói về bóng đá Italy chỉ là kết quả và đó là mục đích tối thượng của nó. Nhưng tại sao nền bóng đá khô khan và thực dụng ấy lại có thể sinh ra một ngôi sao như Roberto Baggio, người luôn đem lại cho giới tifosi những niềm hạnh phúc vì những bàn thắng đẹp đến mê hồn của anh, đồng thời cũng là hiện thân cho những nỗi buồn thất bại (quả penalty hỏng ăn trong trận chung kết World Cup 1994)?

Giorgio Tosatti, cây bút gạo cội trong làng báo thể thao Italy, đã giải thích điều này: “Bản thân bóng đá Italy là cuộc sống, luôn ở hai thái cực trái ngược tồn tại trong một chính thể, là tốt và xấu xen kẽ, nhưng không bao giờ có sự kết hợp giữa tốt và xấu thành một cái gì đó, hoặc là rất tốt, hoặc là rất xấu. Thế nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi Italy đã có những Facchetti, Maldini, Baresi, nhưng lại có Baggio, Zola, Mancini, Totti”.

Baggio đã có một sự nghiệp lẫy lừng, được tôn vinh và yêu mến ở khắp thế giới, nhưng bản thân anh không thấy hạnh phúc đến thế. Là tên tuổi lớn hiếm hoi từng chơi cho cả 3 đội bóng lớn nhất Italy (Juve, Milan, Inter), nhưng sau Juventus, anh không sống được ở một CLB lớn nào nữa, mà chỉ tỏa sáng ở những đội bóng nhỏ, như Bologna, Brescia. Không ai ở Italy quên được câu nói của Tabarez, HLV Milan, khi đẩy anh sang Bologna: “Trong bóng đá hiện đại làm gì có chỗ cho các nhà thơ”. Ấy vậy mà "nhà thơ" Baggio đã ghi 205 bàn ở Serie A. Cũng không ai không nhớ đến Baggio, dù anh với 56 trận cho đội tuyển Italy, thậm chí còn chơi ít hơn 4 trận so với người cùng họ với mình, Dino Baggio, một tiền vệ phòng ngự có lối chơi chặt chém và dũng cảm hơn là lãng mạn. Nền bóng đá nào cũng cần những Baggio, cần rất nhiều Dino và một số ít Roberto. Roberto Baggio gặp rất nhiều trắc trở chính bởi anh quá lãng mạn. Ông chủ Juve, Agnelli còn gọi anh là "con thỏ ướt át" (coniglio bagnato). Nhưng chính vì thế, các tifosi càng yêu anh, nhớ anh nhiều. Vì họ hiểu "cuộc sống luôn cần bánh mì để ăn cho no bụng, nhưng sẽ ngon hơn nhiều nếu phết thêm vào đó một lát mứt ngọt ngào…"

Vài nét về Baggio:
- Sinh năm: 1967
- Danh hiệu cá nhân: Quả bóng vàng châu Âu (1993), Cầu thủ hay nhất thế giới của FIFA (1993)


5. Franz Beckenbauer - Libero và hơn thế nữa

Trong những năm 1960, kể cả những bình luận viên (BLV) nổi tiếng thế giới như BLV người Anh của đài BBC, Kenneth Wolstenholme, đã không biết phải gọi Beckenbauer là gì cho đúng. Trong cuốn sách để đời viết về những ngôi sao bóng đá sáng nhất châu Âu, có tựa đề The Pros, Wolstenholme mô tả vị Hoàng đế bóng đá là “một cái tên lớn với người Đức, cũng hệt như cái tên Bobby Charlton với người Anh”. Ông đã đúng một phần, bởi người Đức sẽ khẳng định Beckenbauer là một người còn hơn thế nữa. Ông là sự kết hợp của 70% của những gì Bobby Charlton đã làm được và 80% những chiến công của Bobby Moore - một tượng đài khác của bóng đá xứ sở sương mù.

Những người xem bóng đá ở thập niên 1970 ấy nhanh chóng nhận ra rằng Beckenbauer đã làm được hơn những gì mà một hậu vệ phải làm. Một cầu thủ chơi chủ yếu với nhiệm vụ phòng thủ đã biến thành một cầu thủ tự do, có thể di chuyển xuống phía dưới hàng thủ để bọc lót, hoặc chơi phía trên hàng thủ, hoặc chạy lên tận hàng tiền vệ để đóng vai trò là người tổ chức, và khi có điều kiện, tấn công như một tiền đạo biết ghi bàn. Người ta gọi những cầu thủ như thế là libero, và Beckenbauer đã là người đầu tiên nổi tiếng với vị trí này.

Trong 12 năm, từ 1965 đến 1977, bóng đá thế giới nhìn ông thán phục, không chỉ vì tài năng và đức khiêm tốn, mà còn ở cả sự đĩnh đạc, phong thái trên sân. Không có bóng, ông lo phòng thủ. Có bóng, ông tổ chức tấn công, chuyền bóng lên phía trên cho đồng đội hoặc ghi bàn. Khi Beckenbauer giải nghệ năm 1977, sau 103 trận với 14 bàn cho đội tuyển Tây Đức, nước Đức bàng hoàng nhận ra họ đã sống quá lâu dưới cái bóng của ông, cả đội tuyển xây dựng xung quanh ông. Và khi Beckenbauer ra đi, một khoảng trống dài như vô tận vì thiếu một ngôi sao lớn như ông diễn ra đến tận năm 1990, khi Đức vô địch World Cup 1990, với ngôi sao mới Matthaeus. Điều đặc biệt, chính Beckenbauer, với vai trò HLV, là kiến trúc sư của chiến thắng ấy.

Ngày nay, những cầu thủ như Beckenbauer không còn nữa. Vai trò của ông thường được chia sẻ cho 2 người, như ở Milan, với Gattuso là người xốc dậy cả hàng tiền vệ, che chắn cho hàng thủ, tranh cướp bóng và hỗ trợ cho Pirlo, bộ não của đội bóng, hoạt động trong một diện rộng ở phần sân mà trước kia Beckenbauer đã làm vua ở đó. Hai người của thời hiện đại, chỉ để làm công việc của một người. Vì vậy chỉ có một Beckenbauer.

Vài nét về Beckenbauer:
- Sinh năm: 1945.
- Danh hiệu cá nhân: Quả bóng vàng châu Âu (1972, 1976), Cầu thủ hay nhất nước Đức (1966, 1968, 1974, 1976)


6. Oleg Blokhin, "Nhà du hành vũ trụ không thể bay"

Nếu Blokhin được sinh ra chậm hơn chừng 10 năm, có lẽ, ông sẽ nổi tiếng như Stoichkov. Điều may mắn là ông đã trưởng thành và nổi tiếng nhờ thứ bóng đá cơ động và điền kinh tổng lực của người thầy vĩ đại Lobanovsky ở Dynamo Kiev. Và điều tồi tệ, là ông chỉ được phép ra thi đấu ở nước ngoài vào năm 1988, khi đã 36 tuổi, và chẳng còn gì để chứng tỏ cho thiên hạ ngoài biên giới Liên Xô thấy những điều thần kỳ, như khi ông đã làm cùng Dynamo Kiev ( đoạt Cúp C2 năm 1975). Những năm ấy, Blokhin, với khả năng ghi bàn khủng khiếp của mình (ghi hơn 200 bàn trong giải VĐ Liên Xô), với tốc độ nhanh như tên lửa (ông chạy 100 mét chỉ hết 11 giây, và so với kỷ lục Olympic 1970, ông chỉ chậm hơn có 1 giây), đã trở thành siêu sao đầu tiên của bóng đá Xô Viết.

Tạp chí bóng đá Đức Kicker năm 1974 từng gọi ông là “nhà du hành vũ trụ ở chân trời bóng đá”. Blokhin giải nghệ vào năm 45 tuổi. Vào đúng năm 1997 ấy, Stoichkov đang tỏa sáng và là một bản sao của Blokhin ngày nào, nhưng anh lại sinh ra đúng thời hơn Blokhin. "Con tàu vũ trụ" Blokhin đã không thể cất cao.

Vài nét về Blokhin:
- Sinh năm 1952
- Danh hiệu cá nhân: Quả bóng vàng châu Âu (1975), Cầu thủ hay nhất Liên Xô (1973, 1974, 1975), Cầu thủ hay nhất Ukraine (1972, 1973, 1974, 1975, 1976, 1977, 1978, 1980, 1981).


7. Diego Maradona, "Vua" của tất cả "các vị vua"

HLV huyền thoại Alf Ramsey, người đưa tuyển Anh lên ngôi VĐTG năm 1966, nhận xét: “Pele có hầu như tất cả. Maradona có tất cả”.

Quả thật, người ta có thể nói về Maradona cả ngày không chán. Xem anh đá bóng ở thời đỉnh cao không khác gì ngắm một bức tranh đẹp đẽ của Raffaello hay Botticelli - 2 danh họa kiệt xuất người Italy thời Phục hưng. Anh có tất cả: kỹ thuật, sự nhanh nhẹn, tư duy chiến thuật, khả năng gây đột biến trong tích tắc, tài thủ lĩnh, sự dũng cảm để làm nên những điều phi thường và cả những điều xấu xa nhất (bàn thắng bằng “bàn tay của Chúa” vào lưới Anh ở World Cup 1986). Maradona làm cho bóng đá trở nên đẹp đẽ, nhưng anh cũng làm cho nó xấu đi không ít. Anh xuất hiện những năm 1980, khi bóng đá trở nên thực dụng, xấu xí và khả năng kỹ thuật điêu luyện của anh đã làm nảy sinh một vấn đề quan trọng làm thay đổi bóng đá thế giới. Các hậu vệ luôn tìm cách chặt chém anh một cách thô bạo và thứ bóng đá xấu xí của chính đội Argentina mà Maradona khoác áo ở World Cup 1990, kỳ World Cup được cho là dở nhất trong lịch sử, khiến số bàn thắng trung bình của mỗi trận giảm xuống thấp nhất lịch sử. Đây là lý do khiến FIFA tiến hành một chiến dịch bảo vệ những ngôi sao như anh bằng cách thắt chặt luật lệ về phạm lỗi, một cuộc cải tổ cách mạnh trong lịch sử. Anh không được tận hưởng sự bảo vệ ấy, bởi tại World Cup 94 anh bị treo giò vì dùng doping. Chính anh cũng đã phải rời Italy năm 1991 vì lý do tương tự.

Vậy đấy, Maradona, người đưa Argentina đến chức VĐTG năm 1986, vào tới trận chung kết World Cup 1990, giúp đội bóng tí hon Napoli đoạt Scudetto 1987, 1990 cũng không chỉ là một ông vua trên sân cỏ. Anh là cuộc sống, là cái tốt, cái xấu, cao cả và đê hèn, vinh quang và tủi nhục… tất cả trong một con người.

Vài nét về Maradona:
- Sinh năm: 1960
- Danh hiệu cá nhân: Cầu thủ hay nhất World Cup 1986, Cầu thủ hay nhất Nam Mỹ (1979, 1986, 1989, 1990, 1992), Cầu thủ hay nhất Serie A (1985)


8. George Best, "James Dean" của bóng đá

Trước khi Beckham khám phá ra rằng, bóng đá có thể là sân khấu để anh khoe khuôn mặt đẹp trai khiến cả giới nữ lẫn giới nam, thậm chí là dân "gay", phát điên lên, có thể kiếm bộn tiền nhờ vẻ đẹp của cơ thể và trưng nó lên bìa báo cùng với những scandal hơn là thi đấu trên sân cỏ, Best đã biết đến điều ấy rồi. Thậm chí, cuộc sống của Best (đọc cũng na ná như Becks) trở nên tối tăm và mờ mịt vì sự nổi tiếng ấy. Nó đã giết chết ông.

Tài năng của Best nở rộ ở M.U (cũng như Becks). Những cú đi bóng nhanh như điện giật, những pha đột phá khiến tất cả kinh ngạc và khiến nhiều cầu thủ ở những đội bóng chống lại M.U phát bực. Trong một trận đấu với Southampton, một cầu thủ của đội này đã la lên với tiền đạo người Bắc Ireland của M.U: “Mày mà còn lặp lại động tác đi bóng ấy, tao sẽ giết mày”. Best nghe thấy thế chỉ cười. Năm 1968, ông trở thành nhân vật chính trong cuộc chinh phục thành công Cúp C1 đầu tiên của M.U. Tai hoạ của Best đến từ khuôn mặt điển trai và cả tài năng đã giúp ông được coi là thành viên thứ 5 của nhóm The Beatles. Ông đẹp trai, và có một cá tính nổi loạn như tài tử James Dean. Trong khi Dean chết vì tai nạn sau một lần phi xe bạt mạng, Best đã giã từ bóng đá năm 27 tuổi, không phải trên sân cỏ, mà ngoài đời vì ông bắt đầu nốc rượu và sống một cuộc đời phóng túng. 30 năm uống rượu đã giết chết ông. Maradona từng nói: “Tôi điên, nhưng Best còn điên hơn tôi"...

Đời đâu phải là mơ. Best biết vậy, nhưng bi kịch là ông không thể sống khác với chính mình. Có cả một cuốn phim về ông, mà trong đó diễn viên John Lynch đóng vai Best. Trong một cảnh đáng nhớ của bộ phim, trước quan tài của Sir Matt Busby, Best đã đứng lặng. Và một giọng nói cất lên: "Có một thời để sinh ra và chết đi, có một thời để yêu thương và đau khổ, có một thời để hát và nhảy múa, có một thời để hôn và để được hôn, có một thời để tìm kiếm và tìm thấy, có một thời gian để có tất cả và sau đó mất tất cả. Thời gian để sống và để chết"
...

Dường như mỗi một nước có một Best của riêng mình. Bulgaria có Georgi Asparugov, Italy có Gigi Meroni, trong khi nước Anh sau này có thêm Gascoigne. Meroni và Asparugov đều chết trẻ. Best qua đời năm 2005 ở tuổi 59. Còn Gascoigne?

Vài nét về George Best:
- Sinh năm: 1946, Mất: 2005
- Danh hiệu cá nhân: Quả bóng vàng châu Âu (1968), Cầu thủ hay nhất nước Anh (1968)


9. Alfredo Di Stefano tạo nên huyền thoại Real Madrid

Trước khi có Di Stefano, Real Madrid không phải là Real Madrid. Real mà không có Di Stefano cũng hệt như ban nhạc Queen chẳng còn gì khi mất Freddy Mercury, giải đua F1 không có Michael Schumacher hay Tiger Woods không có mặt ở một sân golf nào.

Di Stefano chính là Real, bởi dù SVĐ của họ có mang tên Santiago Bernabeu, tên của vị chủ tịch vĩ đại, thì Di Stefano mới là ngôi sao sáng nhất. Những chiến thắng lẫy lừng, những danh hiệu của Real và thời kỳ oàng kim của họ chỉ đến khi ông ký hợp đồng với Real năm 1953, ở tuổi 27. Hai năm sau, thời kỳ thống trị của Real bắt đầu. Từ 1955 dến 1960, tất cả các Cúp C1 đều nằm trong tay họ. HLV Helenio Herrera, một huyền thoại của bóng đá thế giới, nói về ông: “Di Stefano là cả một đội bóng. Anh ta là cái neo của hàng thủ, là cầu thủ dẫn dắt lối chơi, là chân sút số một”.

Nhưng ông còn là một thủ lĩnh đặc biệt, người tạo cảm hứng cho tất cả, người tôn thờ thứ bóng đá bằng máu và mồ hôi. Trong cuốn sách nổi tiếng của nhà báo Phil Ball có tựa đề "Real trắng", có cả một chương mang tên Cuộc sống trước Di Stefano để nói về ông và CLB Hoàng gia Tây Ban Nha. Trước Di Stefano, Real chỉ có 2 chức VĐ Liga, kể từ khi gắn bó với ông, thêm 29 danh hiệu nữa! Ở trận đấu đầu tiên của Real ở Cúp châu Âu, với Servette, năm 1955, người sau này là Vua Tây Ban Nha, Juan Carlos, lúc đó mới 17 tuổi và là thái tử, đã vào tận phòng thay quần áo của Real để bắt tay từng người. Vị vua tương lai của Tây Ban Nha đứng lại một lúc lâu trước Di Stefano và nói: “Bây giờ, chàng trai này mới là vua”. Ông không hề sai.

Vài nét về Di Stefano:
- Sinh năm: 1926
- Danh hiệu cá nhân: Quả bóng vàng châu Âu (1959)


10. Eric Cantona, "Gã điên" làm bừng sáng giải Ngoại hạng

Thật khó để tưởng tượng ra giải Ngoại hạng Anh sẽ còn nhàm chán và buồn thảm đến bao giờ, nếu Cantona không đổ bộ lên đất Anh hồi tháng 2/1992. Nó sẽ không có tâm hồn, không có kỹ thuật (lối chơi "kick & rush" ngự trị) và không mang một chút cá tính nào. Trước đây, án kỷ luật của UEFA với bóng đá Anh sau vụ Heysel năm 1985 đã giết chết một phần bóng đá của quốc gia này. Khi Cantona đến Anh, chàng thanh niên 26 tuổi vốn mang tiếng là một "gã điên" khó tính và hay gây gổ, đã có một quá khứ không đến nỗi tồi với đội tuyển Pháp (20 bàn trong 45 trận), không hề được đánh giá cao và thậm chí còn được cho là sẽ thất bại thảm hại như nhiều cầu thủ khác. Nhưng ngay năm ấy, anh đã đưa Leeds đến chức vô địch nước Anh bằng sự thông minh và phong cách chơi bóng đầy chất nghệ sĩ.

Vì Elland Road không bao giờ là “Nhà hát của những giấc mơ”, nên anh đến đó, Old Trafford, và Alex Ferguson cảm ơn Chúa vì đã cho ông thứ vũ khí sắc sảo nhất để ông cùng MU trở lại thống trị bóng đá Anh sau bao năm trắng tay và núp bóng Liverpool. Ông tìm thấy ở anh, và sau này là Roy Keane, tư chất của một thủ lĩnh tối cao, người đưa đội bóng đến chiến thắng, người truyền cảm hứng cho đồng đội. Với những phẩm chất đó, Cantona đã đưa MU đến những chiến thắng, kèm thêm cả những phiền toái do những án kỷ luật mà anh đã hứng chịu như một phần của cá tính mạnh mẽ ấy (cú kungfu vào một CĐV Crystal Palace
năm 1995 là một ví dụ). Sự xuất sắc ấy đã không chỉ đưa MU thành lá cờ đầu của giải Ngoại hạng, mà còn được coi là biểu tượng thành công mang tính toàn cầu của giải đấu. Đó là nhờ Cantona, cầu thủ hay nhất trong lịch sử của giải đấu này, tính tới nay.

Bây giờ, Cantona đang hưởng thụ những tháng ngày vui vẻ nhất của một cuộc sống không bóng đá: anh đóng phim, và khá thành công. Những cuốn phim sắp tới sẽ còn có mặt anh nhiều lần nữa. Cuốn phim hay nhất mà anh đóng vai chính đã được chiếu rồi, trên đất Anh. Bộ phim có tên “Cantona, một người Pháp làm rạng rỡ bóng đá Anh”.

Vài nét về Cantona:
- Sinh năm: 1966
- Danh hiệu cá nhân: Cầu thủ hay nhất nước Anh (1994, 1996)


11. Johan Cruyff, "người Hà Lan bay"

Cruyff mới chỉ 8 tuổi khi trận đấu bóng đá nhà nghề đầu tiên diễn ra trên đất nước Hà Lan vào ngày 13/3/1955. Vậy mà chỉ trong 20 năm, Ajax đã 3 lần liên tiếp đoạt Cúp C1 trong những năm 70 và đội tuyển Hà Lan đã 2 lần vào đến tận trận chung kết của 2 World Cup liên tiếp 1974 và 1978. Thành tựu lớn ấy sẽ không bao giờ được tạo nên nếu không có khối óc của HLV huyền thoại Rinus Michels và đôi chân cùng cái đầu của Johan Cruyff. 2 con người ấy đã thổi một luồng gió tươi mát vào bóng đá thế giới những năm 1970 với bóng tấn công tổng lực.

Dù với tư cách nào, cầu thủ hay HLV, Cruyff cũng luôn để lại những ấn tượng mạnh mẽ. Và những bài phỏng vấn nào về ông cũng luôn cho thấy, ông không chỉ giỏi trên sân, mà còn là một nhà tư tưởng vĩ đại của bóng đá tấn công. Người Hà Lan gọi ông là John Lennon của họ. Thế giới gọi ông và thế hệ ông là “người Hà Lan bay”. Bất cứ nơi nào ông đã đi qua, từ Ajax, Barca đến đội tuyển Hà Lan đều kính trọng ông và chịu ảnh hưởng lớn của ông, đặc biệt là Barca, bởi chính ông,cùng Michels và Neeskens là những người đã kết duyên cho xứ Catalan với những người Hà Lan trong suốt 30 năm qua, một mối tình chưa hề có dấu hiệu nguội lạnh. Chính Cruyff và cá tính của ông đã ảnh hưởng lớn đến những đội bóng mà ông thi đấu và dẫn dắt.

Sự thật, là trong trận đầu tiên của sự nghiệp ở tuổi 19, ông đã ghi 1 bàn thắng và sau đó bị đuổi khỏi sân vì…đấm trọng tài. Cruyff là thế đấy, bộc trực, sắc sảo và thông minh. Như thứ bóng đá của chính ông.

Vài nét về Cruyff :
- Sinh năm: 1947
- Danh hiệu cá nhân: Quả bóng vàng châu Âu (1971, 1973, 1974)


12. Raymond Kopa, người mở đầu cuộc cách mạng trong xã hội bóng đá

Một cầu thủ xuất sắc của bóng đá Pháp không thể được gọi là "Napoleon của bóng đá" trừ phi người đó, hoặc phải siêu giỏi hoặc phải chinh phục được những danh hiệu lớn nhất của bóng đá thế giới. Trước khi Platini và Zidane làm được điều đó, Kopa đã đứng trên đỉnh thế giới rồi. Người sinh ra trong một gia đình công nhân mỏ ấy đã chinh phục nước Pháp như Napoleon từng chinh phục, dù ông là người gốc Ba Lan (“tên tôi là Kopaszewski, và để thoát khỏi những mỏ than, tôi chẳng biết cách nào khác ngoài đá bóng”). Ông đổi tên, nhập quốc tịch Pháp và trong năm 1958, đưa Stade de Reims vào chung kết Cúp C1 (tiền thân của Champions League), đưa đội tuyển Pháp vào bán kết World Cup.

Sau khi đến Real, giành Cúp C1 với họ, và trở thành cầu thủ Pháp đầu tiên đoạt Quả bóng vàng châu Âu, Kopa trở lại Pháp và phát động cuộc chiến chống lại chế độ hợp đồng hà khắc của giới chủ với các đồng nghiệp ở quê nhà (các cầu thủ bị cột chặt bằng một hợp đồng nặng nề với CLB và đến năm 35 tuổi mới có thể được ra đi theo ý muốn). Vụ đó đã khiến Kopa bị kỷ luật 6 tháng (ông giải nghệ ngay sau đó), nhưng đã dẫn đến một cuộc cách mạng trong làng bóng đá Pháp với sự ra đời của Hiệp hội cầu thủ nhà nghề , để bảo vệ quyền lợi những cầu thủ.

Ngày ông mới nổi tiếng, khi được hỏi cảm nghĩ, Kopa đã nói: “Nếu không có cái mỏ than ấy, tôi chỉ là một cầu thủ giỏi không hơn. Và để thoát ra khỏi cái mỏ than, tôi chỉ có một lựa chon duy nhất, bóng đá”. Vậy, đã bao giờ ông nghĩ, nếu không có ông, bóng đá Pháp sẽ ra sao?

Vài nét về Kopa:
- Sinh năm: 1931
- Danh hiệu cá nhân: Quả bóng vàng châu Âu năm (1958)

Sưu tầm


5 nhận xét:

  1. Ngoài những bàn thắng Pele chẳng để lại điều j đặc biệt để nhớ, tiếc hay làm bóng đá thay đổi

    Trả lờiXóa
  2. Mình xin sang 2 chỗ, bạn sướng nhé ;)

    Trả lờiXóa
  3. 2 chỗ nào? Bài hay vl nhỉ ;))

    Trả lờiXóa